Bảo lưu quyền sở hữu như thế nào?

Bảo lưu quyền sở hữu mặc dù đã được ghi nhận vào Bộ luật dân sự năm 2005 thế nhưng chỉ được xem là một thỏa thuận trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần.

Bảo lưu quyền sở hữu mặc dù đã được ghi nhận vào Bộ luật dân sự năm 2005 thế nhưng chỉ được xem là một thỏa thuận trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần. Cho đến khi Bộ luật dân sự 2015 được ban hành thì việc này mới chính thức trở thành một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Bảo lưu quyền sở hữu

Khái niệm bảo lưu quyền sở hữu:

Theo Khoản 1 Điều 331 Bộ luật dân sự 2015, bảo lưu quyền sở hữu được hiểu là “biện pháp bảo đảm áp dụng trong hợp đồng mua bán tài sản. Quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu và chỉ chuyển giao cho bên mua khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ”. Ngoài ra, nó cũng được áp dụng trong trường hợp mua trả chậm, trả dần.

Chủ thể của bảo lưu quyền sở hữu:

Phải có đầy đủ hai bên tham gia giao dịch: Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Ngoài ra, có thể có sự xuất hiện của bên thứ ba như bên quản lý tài sản bảo đảm, người đại diện của bên nhận bảo đảm, bên xử lý tài sản mà không phải là bên nhận bảo đảm.

Áp dụng với những tài sản có đăng ký quyền sở hữu như nhà cửa, xe máy, oto,…

  • Phương thức thực hiện:

Đối với hợp đồng mua trả chậm, trả dần: thành lập ngày văn bản với quy định chặt chẽ.

Đối với hợp đồng ngoài quy định về đối tượng, giá cả, thời gian chậm thanh toán: phải thỏa thuận về hậu quả pháp lý khi bên mua vi phạm nghĩa vụ với bên bán.

  • Hình thức hợp đồng:

Phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.

Phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

Ngoài ra, Thông tư số 04/2007/TT  – BTP ngày 17/05/2007 của Bộ tư pháp còn hướng dẫn cụ thể về trình tự thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua bán trở chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu của bên bán, hợp đồng thuê tài sản,…

  • Quyền và nghĩa vụ của hai bên:
  • Đối với bên mua:

Bên mua có quyền sử dụng tài sản và hưởng lợi tức từ tài sản đó trong thời hạn hiệu lực của bảo lưu quyền. Tuy nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc bên mua phải có nghĩa vụ chịu tất cả những rủi ro liên quan đến tài sản trong thời hạn bảo lưu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

  • Đối với bên bán:

Nếu bên mua không hoàn thành nghĩa vụ cho bên bán theo thỏa thuận, bên bán có quyền đòi lại tài sản. Ngoài ra, bên bán cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên mua làm mất, hư hỏng tài sản.

Ngoài ra, bên bán phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bên mua số tiền mà bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng.

Có thể thể, qua việc bảo lưu, bên bán được đảm bảo sẽ bán được hàng và thu được đúng số tiền mà bên mua phải trả. Ngược lại, bên mua cũng được phép sử dụng tài sản và khai thác công dụng của tài sản đó.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*